THÁI DOÃN HIỂU
Với một tay nghề già dặn, thơ Hoàng Trần Cương là thứ phù sa kết đọng mang nét tổng kết cuộc đời sau những năm tháng vật lộn gian nan. Như một tấm gương lồi, nhà thơ đã phản ánh được những vấn đề chân thật và bản chất nhất có tính đặc thù của thời đại ta đang sống. Soi vào dòng thơ Hoàng Trần Cương ta thấy bóng dáng mình thấp thoáng nổi chìm. Nhà thơ đã cảnh báo: sống đâu phải dễ, phải kiên cường lắm mới mong sống sót ở đời.
Trầm tích và tập thơ Quà tặng của của thế kỷ của Hoàng Trần Cương là những thi phẩm có giá trị được kết tinh bằng máu huyết của một thi nhân tạo nên khí cốt tầm vóc thi bá. Văn học Việt Nam hiện đại ghi thêm một tên tuổi mới sáng giá về trường ca :Hoàng Trần Cương! Trầm tích là bản trường ca về cuộc sống, bài ca về số phận con người mang ý nghĩa nhân văn bởi nó đã khêu gợi và truyền lửa cho ta hành động. Thơ Hoàng Trần Cương là quyển cách trí, là sách học làm người bằng thơ hướng cho con người một thế đi, dáng đứng.
Thơ Hoàng Trần Cương
BA LÔ TRÊN PHỐ
Một sáng ra đường
Anh lặng người trước những chiếc ba lô
Trên vai các em quàng vào phố xá
Những chiếc ba lô vừa quen vừa lạ
Bàng hoàng anh nắn lại bờ vai
Những chiếc ba lô không một bóng lá cài
Sao như có màu xanh thuở ấy
Màu xanh
Của một thời anh từng mơ đấy
Bây giờ cười nói líu lô
Những chiếc ba lô
Sớm tinh mơ cơ động đến trường
Các em chở bình yên về rợp phố
Nghẹn ngào, anh rướn nhìn theo...
11/1997
CHÙM THƠ CHƯA HÁI
Tưởng nhớ Vương Lân
Nắng cũng biết già đến thế Lân ơi
Hoàng hôn đại ngàn dìu nhau về núi
Gốc săng lẻ nào mày từng ngồi làm thơ và nhớ mẹ
Cuốn nhật ký mỏng dần theo đêm sáng trăng
Nửa cuốn vở sót lại toàn giấy trắng
Đứt ngang
Thác nắng
Đầu ngày
Sao không là tao mà lại là mày
Sao không cả hai thằng một lúc
Nhớ chiều mày hy sinh
Đất Quảng Trị ghì mình vào những chum thơ chưa hái
Những nỗi niềm đang ráo riết xanh
Tận bây giờ mỗi bữa nắng hanh
Mày vẫn về với tao giữa những câu thơ viết vội
Nói một điều gì đi Lân ơi
Đừng bắt tao ngồi ngậm tăm
trước nửa phần giấy trắng...
30/4/1995
GIẢI PHÁP
Nhiều lúc anh muốn bứt đi dòng hồi tưởng của mình
Những ký ức từng làm em sây xẩm
Khi sốt rét quật anh ngã sấp
Buổi động trời vết thương cũ nghiến răng
Nhiều lúc một mình ngồi muốn nuốt chửng cả mùa trăng
Khi rạng lên trong anh những gương mặt đã tản vào năm tháng
Những chiếc áo của đồng đội anh nếu đem ghép lại
Chắc cũng đủ căng lên thêm một bầu trời
Nhiều lúc quá khứ bị chính anh lơ đãng bỏ rơi
Ngước lên bàn thờ bắt gặp đôi nén hương đói lửa
Những nén hương khắc khoải cong xoắn vòng vấn hỏi
Khói bay tìm trời xưa
Vuốt nỗi nhớ cồn cào xuống ngực
Và nằm xoài anh ôm anh trên đất
Chợt gặp lại những tấm bia đã mờ tên đồng đội
Đứng im lìm giữa dãy dọc, hàng ngang
Không hiểu sao những tấm bia đều ngoảnh mặt về làng
TRƯỚC NGHĨA TRANG TRƯỜNG SƠN
Không có gió
Không có mưa
Chỉ có
Trời ở trên đầu
Cỏ ở chốn đây
Xanh tróc da như nọc nanh trổ vuốt
Đứng canh nơi các anh nằm
Tôi trở lại Trường Sơn. Mười năm
Và gặp ở đây những người không về nữa
Đồng đội ơi, tôi tội tình chi rứa
Mà các anh quay mặt, tắt lòng
Như tôi chưa từng là người thân của các anh
Như cuộc chiến tranh vừa qua, tôi là thằng trốn chạy
Như mười năm xa. Tôi đã sống xuôi tay
Không ngó đến tương lai. Không đoái hoài kỷ niệm
Đá dựng tượng đài mang dáng những trái tim
xếp nghiêng
Những phiến đá chất chồng lớp lớp tuổi thanh niên
Tạc đất nước thành Trường Sơn sừng sững
Dấu tên riêng trong hoang vắng rừng già
Rời nghĩa trang
Tôi lật đật về nhà
Thấy mây trắng bay ngang
Bỗng dưng lòng bật khóc
Trong đầu lựng ngọn gió ngày xưa
Còn tóc đâu mà sợ bạc
Chỉ có nơi các anh nằm gác
Hàng năm
Cỏ rũ rượi xanh
Và những tấm bia
Vẫn yên lặng xếp hàng để choàng thêm màu trắng
Và ngày ngày
Mặt trời lại sà xuống nơi này vay nắng...
Trường Sơn 1985
Hoàng Trần Cương: Vừa đi vừa ngoái nhìn quá khứ
Hoàng Trần Cương: Vừa đi vừa ngoái nhìn quá khứ
Nhà thơ Hoàng Trần Cương.
Đọc thơ Hoàng Trần Cương đã nhiều, nhưng lần đầu tiên được "mục sở thị" thi sĩ, tôi rất ấn tượng về cách đọc thơ của anh. Trong quán bia hơi tuềnh toàng, giọng sang sảng của anh làm "giật mình" nhiều thực khách. Lúc cao hứng, anh dằn mạnh cuốn sổ trên tay xuống bàn, cuốn sổ mà anh luôn mang theo người để có thể làm thơ, ghi chép bất cứ lúc nào. Và khi cuốn sổ rơi xuống, tôi thấy hàng trăm con chữ bay vút lên, lao vào thăm thẳm trời...
- Có nhiều nhận xét về Hoàng Trần Cương mà tôi đã từng đọc. Song phần lớn những từ người ta dành cho anh đều có thể làm trẻ con và người yếu bóng vía... sợ hãi, ví dụ như: thô nhám, xù xì, quyết liệt, cực đoan, "tận bờ sát góc"...Thêm một tướng mạo Hoàng Trần Cương cũng không kém phần làm cho người mới gặp lần đầu cảm thấy đôi chút... chờn chợn. Và một giọng nói có lúc như âm thanh của một chiếc rìu va vào vách đá. Thật khó để nhìn ra bóng dáng nhà thơ trong hình hài Hoàng Trần Cương ở ngoài đời...
+ Nhận xét về tôi là quyền của mỗi người. Tôi là người không định giấu giếm mình, và cũng không giấu được ai cả.
- Anh sinh ra và lớn lên ở mảnh đất miền Trung nhiều bão gió, lại trải qua một tuổi thơ sớm phải chịu đựng nhiều nỗi buồn. Có thể hiểu đây là hai yếu tố căn bản nhất làm nên tính cách thơ Hoàng Trần Cương, số phận thơ Hoàng Trần Cương chăng?
+ Tôi cho rằng nhận xét này đúng ở phần căn bản nhất. Bạn biết đấy, không ai chọn được nơi sinh ra và không ai được quyền từ chối mẹ của mình. Tôi luôn thấy mình may mắn vì được sinh ra ở một vùng đất khốc liệt và trong một gia đình có nhiều biến cố, từ khi tôi còn rất nhỏ tuổi.
Miền Trung của tôi là vùng đất "phên dậu" của Tổ quốc và hiển nhiên nó phải ẩn chứa những tố chất quan trọng nào đó thì mới có thể đảm nhiệm được vai trò ấy. Trong cái nắng gió, đói nghèo của miền Trung chỉ có hai chữ đói nghèo là có thể thay đổi, và hiện tại đang dần thay đổi. Nhưng yếu tố phong thổ thì mãi mãi không thay đổi. Cũng chính yếu tố này ám vào hồn cốt các cư dân miền Trung.
Dẫn giải điều này để nói rằng, cho dù tôi là một người theo học ngành tài chính, có tới trên 20 năm làm kế toán trưởng, trải qua các thời kỳ chiến tranh, bao cấp và chập chững kinh tế thị trường, đó là những hoàn cảnh có phần nào ảnh hưởng đến những câu thơ của tôi. Nhưng ngẫm thật kỹ ra thì những ảnh hưởng ấy hình như không phải.
Mà thực ra cái hồn thơ của tôi là sự tiếp nhận vô thức của đời sống, cảm xúc, thi ảnh của những năm tháng thơ trẻ. Đối với tôi, những dấu ấn tuổi thơ là thứ được lưu giữ vĩnh viễn trong tâm hồn mình. Còn những năm tháng sau này chỉ là sự bồi đắp. Những người làm thơ thì không bao giờ thoát ra khỏi những ám ảnh quá khứ và tôi cũng vậy. Tôi đã từng bị cuộc đời quăng quật xuống tận đáy theo đúng nghĩa đen của từ này. Chính điều đó đã tạo nên tính cách thơ của tôi.
- Nhà thơ Vũ quần Phương từng nói: "Văn chương thời nào cũng có mốt của nó". Nhìn vào đời sống văn học hôm nay, quả tình cũng có rất nhiều thứ mốt khác nhau. Nhưng tôi thấy là anh không đuổi theo mốt. Thơ của anh, với cái vẻ mộc mạc của mình, với cảm thức về đất đai, đồng ruộng, quê hương, quá khứ, lại còn có vẻ gì hơi... lỗi mốt nữa. Bởi vậy mà mới có người nhận xét, Hoàng Trần Cương là nhà thơ có thứ hạng trong văn học Việt Nam đương đại, nhưng lại không được dư luận chú ý. Vậy, anh có thể nói gì về cái gọi là thời trang trong văn học?
+ Theo tôi nghĩ văn chương nói riêng và nghệ thuật nói chung không bao giờ là thời trang cả. Tôi không dám coi thơ là thời trang. Vì thế nên chả dại gì mà tôi lại mất thời gian sắm sanh, soạn sửa. Không mấy khi tôi quan tâm đến việc người ta ngó ngàng mình ra sao. Tôi chỉ ngó ngàng chính tôi, xem có khi nào mình trở nên phô diễn không.
Với tôi, những người coi văn chương là thời trang, đến với văn chương như đến với một thứ thời trang là những người thiếu bản lĩnh. Vì thời trang là thứ để người ta nhìn vào anh, chứ không phải những thứ tự anh. Nhà thơ có nhiều người yêu quý mình dĩ nhiên là tốt rồi. Nhưng với tôi, có khi chỉ có một người đọc mình cũng đã là rất mừng.
- Anh từng tham gia quân đội nhiều năm, là một người lính pháo binh vào sinh ra tử, chiến đấu cùng những đồng đội nổi tiếng trong làng văn chương cùng thời như Nguyễn Trí Huân, Đỗ Chu, Thao Trường, Duy Khán. Nhưng tôi nhận thấy anh không viết nhiều về chiến tranh. Có lẽ nào chiến tranh đã không trở thành nỗi ám ảnh đủ thôi thúc để anh cầm bút?
+ Thơ tôi không phải không từng viết về chiến tranh nhưng nếu lượng hóa thì quả tình cũng không nhiều. Nói về quá khứ chiến tranh, thực lòng là tôi muốn Quên, vì khi đương đầu với nó, chúng ta đã thể hiện kiệt cùng sự Nhớ.
Chúng ta đã không ngần ngại tổn máu, hao xương và tận hiến tuổi trẻ để chiến thắng. Và bây giờ là lúc có thể được tạm Quên đi để có thời gian làm nhiều việc khác. Nhưng hiềm nỗi, chiến tranh là không thể Quên và không được phép Quên.
Trong trường ca "Trầm tích" của tôi, nếu để ý, mặc dù không nói trực diện, nhưng xuyên suốt tác phẩm là bóng dáng của chiến tranh. Nó được lấp sau những nỗi đau khác...
Bình Nguyên Trang (thực hiện)
Tôn vinh văn chương trên hộp đựng thuốc lá
Nguyễn Thuỵ Kha
Một thương nhân Việt Nam sang Paris công chuyện, khi về Hải Phòng khoe ngay với nghệ sĩ nhân dân Đào Trọng Khánh: Bác hay nhắc đến bác Cương (tức nhà thơ Hoàng Trần Cương) trong cuộc rượu, em mua về làm quà cho bác một thứ có liên quan tới bác Cương. Khi người thương nhân lấy từ trong túi quần ra một hộp đựng thuốc lá, nhìn vào quà tặng, NSND Đào Trọng Khánh quá kinh ngạc. Hóa ra trên hộp đựng thuốc lá hình chữ nhật có in đàng hoàng tên trường ca Trầm trích (Sediment) của Hoàng Trần Cương vừa được nhà xuất bản Đà Nẵng dịch sang tiếng Anh với lời giới thiệu trân trọng của Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến. Trên hộp in đầy đủ tên tác giả: Hoàng Trần Cương (viết đúng tiếng Việt có dấu), tên trường ca bằng tiếng Anh: Sediment, tên thể loại bằng tiếng Anh: Long Poem, tên nơi giới thiệu tác giả này trên hộp đựng thuốc lá: Sein - Paris (tức là nhà sách Sein bên sông Sein ở Paris). Nhận được quà tặng, NSND Đào Trọng Khánh mừng cho bạn quá, anh vội gọi từ Hải Phòng lên toà soạn Thời báo Tài chính Việt Nam - nơi nhà thơ Hoàng Trần Cương đương nhiệm vị trí Tổng Biên tập. Đúng ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6/2007, hai người bạn gặp nhau và hộp đựng thuốc lá đã được NSND Đào Trọng Khánh chuyển tặng cho nhà thơ Hoàng Trần Cương. Vậy là Châu đã về Hợp Phố vào đúng ngày rất có ấ nghĩa này. (Xem tiếp)
17. Giao cảm phù sa
Quà tặng của những tháng ngày bình yên
Là những loài hoa không nở theo mùa vụ
Thanh thản đất trời
Thanh thản thời gian
Sông ngắm núi êm đềm mây trắng
(Xem tiếp)
14. Cấu trúc làng
Thuỷ chung và nhân hậu
Những quê làng
Suốt một thời rặt áo màu nâu
Tre pheo cụt ngọn
(Xem tiếp)
11. Địa linh
Mẹ ơi
Mẹ đã cho con trái tim mang hình chóp núi
Chống nắng chọi mưa
Trần trụi dưới trời
Cái chóp núi vừa ngoi lên đã chui qua cát bụi
Nghèo khó niềm vui
(Xem tiếp)
8. Hoàng hôn màu cỏ
Khói lửa tạm lắng rồi
Gói chiếc ba lô phồng căng thời trai trẻ
Con trở về miền ao ước
Rải tiếng cười lăn xuống gậm giường
(Xem tiếp)
5. Những viên đá lẻ
Những năm tháng đã mịt mờ xa ngái
Chạnh nhớ về là người phát cơn ho
Ngày di dân gió tràn vào xóm nhỏ
Thôn dưới làng trên nhà cửa tuột trần
(Xem tiếp)
HOÀNG TRẦN CƯƠNG
TRẦM TÍCH
Trường ca
NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN
(Xem tiếp)
Trầm tích - sự trở lại của trường ca
Nguyễn Trọng Tạo
Một hồn thơ vạm vỡ, cuộn trào như thế mà cày bút vào trường ca thì quả là không nhầm: Đã thế, anh lại còn cày vào Trầm tích… phải đến anh thì đất và người xứ Nghệ mới thực sự được dựng lên sừng sững như một quần thể tượng đài với những hình tượng nghệ thuật độc đáo hiếm thấy.
(Xem tiếp)

Trước dinh TT Ba Lan (10.2004)
Trái sang: HTC, Trần Hữu Tòng, Hữu Thỉnh, Nguyễn Thụy Kha, Nguyễn Trọng Tạo
Phạm Ngọc Tiến, Thái Chí Thanh
Photo: Nguyễn Đình Dũng

Trong vườn nhà nhạc sĩ vĩ đại Chopin (10.2004)
Trái sang: Nguyễn Thụy Kha, Đỗ Quân, Phạm Ngọc Tiến, HTC, Nguyễn Trọng Tạo

Cửa Lò, 30.4.2004
Trái sang: Nguyễn Trọng Ân, Nguyễn Trọng Tạo, Hoàng Trần Cương

Cương cười, Hảo ngủ (Trần Mạnh Hảo)
Photo: Nguyễn Đình Toán

Cùng đoàn làm phim chân dung Hoàng Cầm 2005
Ảnh chụp với thi sĩ Hoàng Cầm tại tư gia của ông 43 Lý Quốc Sư, HN
NHÀ THƠ HOÀNG TRẦN CƯƠNG LÀM THƠ BẰNG TIẾNG NGHỆ?
Nhà thơ Hoàng Trần Cương làm thơ bằng tiếng Nghệ?
Nguyễn Trọng Tạo
Từ Hộp thư Văn Nghệ:
Tôi và vợ tôi là người nước ngoài nghiên cứu về Việt Nam. Vợ tôi chuyên về văn học nên hễ đến Việt Nam là thế nào chúng tôi cũng ghé vào một cửa hàng sách để tôi mua vài tập thơ “nịnh vợ”. Lần đến Việt Nam cuối năm Mão, chúng tôi mua được tập trường ca Trầm tích và tập thơ Quà tặng hành tinh của nhà thơ Hoàng Trần Cương. Tuy vậy có nhiều từ chúng tôi không hiểu như “mô, tê, răng, rứa” hay “khú” trong câu “Mưa quây khú cả nắng vàng”,vv…. Chúng tôi hỏi một anh bạn Việt Nam, anh ấy bảo rằng đấy là nhà thơ viết bằng tiếng Nghệ. Vậy nên làm thơ bằng tiếng “Nghệ” hay không? Và nếu có thì nhờ các bạn mách cho chúng tôi mua một cuốn từ điển tiếng Nghệ được không?
Valôđia Becxnôp (Matxcơva)
Trả lời: Hai vợ chồng bạn không chỉ biết tiếng Việt mà còn quan tâm đến thơ của chúng tôi, đó là điều thật đáng quý. Câu hỏi của bạn về “tiếng Nghệ” trong thơ Hoàng Trần Cương là vô cùng thú vị. Nhà thơ Hoàng Trần Cương vốn quê xứ Nghệ, một vùng văn hoá giàu bản sắc riêng, và ngôn ngữ của vùng này có những nét rất độc đáo, còn lưu giữ cho đến nay khá nhiều vốn từ cổ xưa. Nhà thơ Hoàng Trần Cương đã viết tập trường ca Trầm tích từ những cảm quan về xứ Nghệ quê anh, trong đó anh đã huy động toàn bộ vốn sống của anh về xứ Nghệ để miêu tả mảnh đất và con người ở đấy qua nhiều biến thiên của lịch sử. Ngôn ngữ và tư duy của con người xứ Nghệ đã xuyên suốt tập trường ca này, nhờ vậy mà qua 120 trang thơ, người đọc có thể cảm nhận được niềm khát vọng và sức vươn lên của đất và người ở quê nhiều nhọc nhằn, nhiều hy sinh khắc nghiệt trong cuộc chống chọi với thiên tai và địch hoạ liên miên.
Niềm khát vọng và sức vươn lên của xứ Nghệ cũng chính là ước mơ và ý chí của người Việt nói chung trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của mình. Những từ địa phương xứ Nghệ được dùng trong trường ca này có một sức mạnh truyền tải cảm hứng trung thực của nhà thơ, đồng thời có cũng góp phần tạo nên phong cách riêng của nhà thơ. Ví dụ như từ “khú” trong câu thơ “Mưa quây khú cả nắng vàng” mà bạn hỏi, chính là từ riêng của xứ Nghệ đấy. Từ “khú” có hai nghĩa khác nhau là bù khú và mùi khú. Bù khú là nói về nhiều người chụm lại vui vẻ với nhau như “uống rượu bù khú”. Mùi khú là rau cải phơi vàng muối dưa bị bốc mùi hôi khó ăn, hoặc đám cỏ bị nước tiểu xối vào quá nhiều mà bốc mùi xú uế. “Mưa quây khú cả nắng vàng” là với ý nghĩa thứ hai: Mùi khú.
Khi nhận được thư bạn hỏi, tôi đã kiểm tra lại hai cuốn sách của Hoàng Trần Cương và quả là bạn đã nói đúng: Nhà thơ đã dùng khá nhiều từ “tiếng Nghệ” trong thơ của mình. Nhưng nói chung, các từ Nghệ mà nhà thơ dùng là khá đắc địa, nó tạo được hiệu quả lớn khi người đọc đã từng có một vốn sống văn hoá xứ Nghệ dù là vô thức hay ý thức. Tuy nhiên suốt cả tập trường ca Trầm tích viết về xứ Nghệ, hầu hết những người Việt yêu thơ đều có thể hiểu được, hoặc cảm được. Có lẽ vợ bạn đã thích thơ Hoàng Trần Cương vì chị đã cảm nhận được cái hay, cái độc đáo, cái ý tưởng vươn lên không chịu khuất phục trước hiện tại địch hoạ hay đói nghèo mà một vùng đất hay cả một dân tộc đã từng vượt qua.
“Cạnh đá sắc còn hằn nguyên vết sẹo
Dấu tích tháng năm buồn
Nghèo khó cằn xé nhau.”
Hoặc: “ Con không tin mảnh đất này rụi rọ
Ai ra đi cũng chẳng muốn quay về
Có một đời con trong đống rác
Xin mẹ cho con bới tìm
Con không tin xứ này đói lịm
Khi chân trời vẫn rợp cánh chim...vv…
Nếu nhà thơ Hoàng Trần Cương đã làm nên bản sắc thơ ca của mình bằng “tiếng Nghệ” thì “làm thơ bằng tiếng Nghệ” nào có lỗi gì đâu. Tất nhiên, làm thơ bằng tiếng Nghệ (hay tiếng gì đi nữa) cho hay luôn luôn là điều không dễ.
Nếu đọc thơ Việt gặp phải những từ tiếng Nghệ mà chưa hiểu được, bạn có thể xem cuốn “Từ điển tiếng Nghệ” do Trần Hữu Thung và Thái Kim Đỉnh biên soạn ( NXB Nghệ An, 1996). Cuốn từ điển này tuy chưa thật đầy đủ, nhưng nó vẫn mang tới cho bạn nhiều điều bổ ích.
(Tiền phong số 3, ra ngày 11-3-2000)
THI PHÁP ĐẶC SẮC CỦA "TRẦM TÍCH"
Bản in




