Sign up

[ PHÊ BÌNH ] 21 May, 2011 23:32

THÁI DOÃN HIỂU

altVới một tay nghề già dặn, thơ Hoàng Trần Cương là thứ phù sa kết đọng mang nét tổng kết cuộc đời sau những năm tháng vật lộn gian nan. Như một tấm gương lồi, nhà thơ đã phản ánh được những vấn đề chân thật và bản chất nhất có tính đặc thù của thời đại ta đang sống. Soi vào dòng thơ Hoàng Trần Cương ta thấy bóng dáng mình thấp thoáng nổi chìm. Nhà thơ đã cảnh báo: sống đâu phải dễ, phải kiên cường lắm mới mong sống sót ở đời.

Trầm tích và tập thơ Quà tặng của của thế kỷ của Hoàng Trần Cương là những thi phẩm có giá trị được kết tinh bằng máu huyết của một thi nhân tạo nên khí cốt tầm vóc thi bá. Văn học Việt Nam hiện đại ghi thêm một tên tuổi mới sáng giá về trường ca :Hoàng Trần Cương! Trầm tích
 là bản trường ca về cuộc sống, bài ca về số phận con người mang ý nghĩa nhân văn bởi nó đã khêu gợi và truyền lửa cho ta hành động. Thơ Hoàng Trần Cương là quyển cách trí, là sách học làm người bằng thơ hướng cho con người một thế đi, dáng đứng.

Sau chiến tranh thơ ta đang có xu hướng khai thác đời tư và những mảnh đời vụn vặt, nhàn tản thì Hoàng Trần Cương đã dám xông thẳng vào những vấn đề thế sự gai góc nóng bỏng của xã hội hôm qua và hôm nay để hướng tới ngày mai tươi sáng với cái nhìn sắc bén, tổng lực cất lên tiếng nói mạnh bạo có trọng lượng, đầy ma lực  nghệ thuật. Trầm tích là thiên trường ca có lẽ là hay nhất trong các trường ca hay của nửa cuối thế kỷ XX đầy giông bão, máu lửa.  (Xem tiếp)
[ THƠ ] 17 March, 2009 20:42

Thơ Hoàng Trần Cương

BA LÔ TRÊN PHỐ


Một sáng ra đường

Anh lặng người trước những chiếc ba lô

Trên vai các em quàng vào phố xá

Những chiếc ba lô vừa quen vừa lạ

Bàng hoàng anh nắn lại bờ vai


Những chiếc ba lô không một bóng lá cài

Sao như có màu xanh thuở ấy

Màu xanh

Của một thời anh từng mơ đấy

Bây giờ cười nói líu lô


Những chiếc ba lô

Sớm tinh mơ cơ động đến trường

Các em chở bình yên về rợp phố

Nghẹn ngào, anh rướn nhìn theo...


11/1997



CHÙM TH
Ơ CHƯA HÁI

Tưởng nhớ Vương Lân


Nắng cũng biết già đến thế Lân ơi

Hoàng hôn đại ngàn dìu nhau về núi

Gốc săng lẻ nào mày từng ngồi làm thơ và nhớ mẹ

Cuốn nhật ký mỏng dần theo đêm sáng trăng

Nửa cuốn vở sót lại toàn giấy trắng

Đứt ngang

Thác nắng

Đầu ngày


Sao không là tao mà lại là mày

Sao không cả hai thằng một lúc

Nhớ chiều mày hy sinh

Đất Quảng Trị ghì mình vào những chum thơ chưa hái

Những nỗi niềm đang ráo riết xanh


Tận bây giờ mỗi bữa nắng hanh

Mày vẫn về với tao giữa những câu thơ viết vội

Nói một điều gì đi Lân ơi

Đừng bắt tao ngồi ngậm tăm

trước nửa phần giấy trắng...


30/4/1995



GIẢI PHÁP


Nhiều lúc anh muốn bứt đi dòng hồi tưởng của mình

Những ký ức từng làm em sây xẩm

Khi sốt rét quật anh ngã sấp

Buổi động trời vết thương cũ nghiến răng


Nhiều lúc một mình ngồi muốn nuốt chửng cả mùa trăng

Khi rạng lên trong anh những gương mặt đã tản vào năm tháng

Những chiếc áo của đồng đội anh nếu đem ghép lại

Chắc cũng đủ căng lên thêm một bầu trời


Nhiều lúc quá khứ bị chính anh lơ đãng bỏ rơi

Ngước lên bàn thờ bắt gặp đôi nén hương đói lửa

Những nén hương khắc khoải cong xoắn vòng vấn hỏi

Khói bay tìm trời xưa


Vuốt nỗi nhớ cồn cào xuống ngực

Và nằm xoài anh ôm anh trên đất

Chợt gặp lại những tấm bia đã mờ tên đồng đội

Đứng im lìm giữa dãy dọc, hàng ngang


Không hiểu sao những tấm bia đều ngoảnh mặt về làng



TRƯỚC NGHĨA TRANG TRƯỜNG SƠN


Không có gió

Không có mưa

Chỉ có

Trời ở trên đầu

Cỏ ở chốn đây

Xanh tróc da như nọc nanh trổ vuốt

Đứng canh nơi các anh nằm


Tôi trở lại Trường Sơn. Mười năm

Và gặp ở đây những người không về nữa

Đồng đội ơi, tôi tội tình chi rứa

Mà các anh quay mặt, tắt lòng


Như tôi chưa từng là người thân của các anh

Như cuộc chiến tranh vừa qua, tôi là thằng trốn chạy

Như mười năm xa. Tôi đã sống xuôi tay

Không ngó đến tương lai. Không đoái hoài kỷ niệm


Đá dựng tượng đài mang dáng những trái tim

xếp nghiêng

Những phiến đá chất chồng lớp lớp tuổi thanh niên

Tạc đất nước thành Trường Sơn sừng sững

Dấu tên riêng trong hoang vắng rừng già


Rời nghĩa trang

Tôi lật đật về nhà

Thấy mây trắng bay ngang

Bỗng dưng lòng bật khóc

Trong đầu lựng ngọn gió ngày xưa


Còn tóc đâu mà sợ bạc

Chỉ có nơi các anh nằm gác

Hàng năm

Cỏ rũ rượi xanh

Và những tấm bia

Vẫn yên lặng xếp hàng để choàng thêm màu trắng

Và ngày ngày

Mặt trời lại sà xuống nơi này vay nắng...


Trường Sơn 1985

[ BÀI BÁO ] 29 October, 2008 08:03
 

Hoàng Trần Cương: Vừa đi vừa ngoái nhìn quá khứ


Nhà thơ Hoàng Trần Cương.


Đọc thơ Hoàng Trần Cương đã nhiều, nhưng lần đầu tiên được "mục sở thị" thi sĩ, tôi rất ấn tượng về cách đọc thơ của anh. Trong quán bia hơi tuềnh toàng, giọng sang sảng của anh làm "giật mình" nhiều thực khách. Lúc cao hứng, anh dằn mạnh cuốn sổ trên tay xuống bàn, cuốn sổ mà anh luôn mang theo người để có thể làm thơ, ghi chép bất cứ lúc nào. Và khi cuốn sổ rơi xuống, tôi thấy hàng trăm con chữ bay vút lên, lao vào thăm thẳm trời...

- Có nhiều nhận xét về Hoàng Trần Cương mà tôi đã từng đọc. Song phần lớn những từ người ta dành cho anh đều có thể làm trẻ con và người yếu bóng vía... sợ hãi, ví dụ như: thô nhám, xù xì, quyết liệt, cực đoan, "tận bờ sát góc"...Thêm một tướng mạo Hoàng Trần Cương cũng không kém phần làm cho người mới gặp lần đầu cảm thấy đôi chút... chờn chợn. Và một giọng nói có lúc như âm thanh của một chiếc rìu va vào vách đá. Thật khó để nhìn ra bóng dáng nhà thơ trong hình hài Hoàng Trần Cương ở ngoài đời...

 + Nhận xét về tôi là quyền của mỗi người. Tôi là người không định giấu giếm mình, và cũng không giấu được ai cả.

- Anh sinh ra và lớn lên ở mảnh đất miền Trung nhiều bão gió, lại trải qua một tuổi thơ sớm phải chịu đựng nhiều nỗi buồn. Có thể hiểu đây là hai yếu tố căn bản nhất làm nên tính cách thơ Hoàng Trần Cương, số phận thơ Hoàng Trần Cương chăng?

+ Tôi cho rằng nhận xét này đúng ở phần căn bản nhất. Bạn biết đấy, không ai chọn được nơi sinh ra và không ai được quyền từ chối mẹ của mình. Tôi luôn thấy mình may mắn vì được sinh ra ở một vùng đất khốc liệt và trong một gia đình có nhiều biến cố, từ khi tôi còn rất nhỏ tuổi.

Miền Trung của tôi là vùng đất "phên dậu" của Tổ quốc và hiển nhiên nó phải ẩn chứa những tố chất quan trọng nào đó thì mới có thể đảm nhiệm được vai trò ấy. Trong cái nắng gió, đói nghèo của miền Trung chỉ có hai chữ đói nghèo là có thể thay đổi, và hiện tại đang dần thay đổi. Nhưng yếu tố phong thổ thì mãi mãi không thay đổi. Cũng chính yếu tố này ám vào hồn cốt các cư dân miền Trung.

Dẫn giải điều này để nói rằng, cho dù tôi là một người theo học ngành tài chính, có tới trên 20 năm làm kế toán trưởng, trải qua các thời kỳ chiến tranh, bao cấp và chập chững kinh tế thị trường, đó là những hoàn cảnh có phần nào ảnh hưởng đến những câu thơ của tôi. Nhưng ngẫm thật kỹ ra thì những ảnh hưởng ấy hình như không phải.

Mà thực ra cái hồn thơ của tôi là sự tiếp nhận vô thức của đời sống, cảm xúc, thi ảnh của những năm tháng thơ trẻ. Đối với tôi, những dấu ấn tuổi thơ là thứ được lưu giữ vĩnh viễn trong tâm hồn mình. Còn những năm tháng sau này chỉ là sự bồi đắp. Những người làm thơ thì không bao giờ thoát ra khỏi những ám ảnh quá khứ và tôi cũng vậy. Tôi đã từng bị cuộc đời quăng quật xuống tận đáy theo đúng nghĩa đen của từ này. Chính điều đó đã tạo nên tính cách thơ của tôi.

- Nhà thơ Vũ quần Phương từng nói: "Văn chương thời nào cũng có mốt của nó". Nhìn vào đời sống văn học hôm nay, quả tình cũng có rất nhiều thứ mốt khác nhau. Nhưng tôi thấy là anh không đuổi theo mốt. Thơ của anh, với cái vẻ mộc mạc của mình, với cảm thức về đất đai, đồng ruộng, quê hương, quá khứ, lại còn có vẻ gì hơi... lỗi mốt nữa. Bởi vậy mà mới có người nhận xét, Hoàng Trần Cương là nhà thơ có thứ hạng trong văn học Việt Nam đương đại, nhưng lại không được dư luận chú ý. Vậy, anh có thể nói gì về cái gọi là thời trang trong văn học?

+ Theo tôi nghĩ văn chương nói riêng và nghệ thuật nói chung không bao giờ là thời trang cả. Tôi không dám coi thơ là thời trang. Vì thế nên chả dại gì mà tôi lại mất thời gian sắm sanh, soạn sửa. Không mấy khi tôi quan tâm đến việc người ta ngó ngàng mình ra sao. Tôi chỉ ngó ngàng chính tôi, xem có khi nào mình trở nên phô diễn không.

Với tôi, những người coi văn chương là thời trang, đến với văn chương như đến với một thứ thời trang là những người thiếu bản lĩnh. Vì thời trang là thứ để người ta nhìn vào anh, chứ không phải những thứ tự anh. Nhà thơ có nhiều người yêu quý mình dĩ nhiên là tốt rồi. Nhưng với tôi, có khi chỉ có một người đọc mình cũng đã là rất mừng.

- Anh từng tham gia quân đội nhiều năm, là một người lính pháo binh vào sinh ra tử, chiến đấu cùng những đồng đội nổi tiếng trong làng văn chương cùng thời như Nguyễn Trí Huân, Đỗ Chu, Thao Trường, Duy Khán. Nhưng tôi nhận thấy anh không viết nhiều về chiến tranh. Có lẽ nào chiến tranh đã không trở thành nỗi ám ảnh đủ thôi thúc để anh cầm bút?

+ Thơ tôi không phải không từng viết về chiến tranh nhưng nếu lượng hóa thì quả tình cũng không nhiều. Nói về quá khứ chiến tranh, thực lòng là tôi muốn Quên, vì khi đương đầu với nó, chúng ta đã thể hiện kiệt cùng sự Nhớ.

Chúng ta đã không ngần ngại tổn máu, hao xương và tận hiến tuổi trẻ để chiến thắng. Và bây giờ là lúc có thể được tạm Quên đi để có thời gian làm nhiều việc khác. Nhưng hiềm nỗi, chiến tranh là không thể Quên và không được phép Quên.

Trong trường ca "Trầm tích" của tôi, nếu để ý, mặc dù không nói trực diện, nhưng xuyên suốt tác phẩm là bóng dáng của chiến tranh. Nó được lấp sau những nỗi đau khác...

Bình Nguyên Trang (thực hiện)

[ TIN VĂN , BÀI BÁO ] 13 July, 2007 07:09

Nguyễn Thuỵ Kha

htcMột thương nhân Việt Nam sang Paris công chuyện, khi về Hải Phòng khoe ngay với nghệ sĩ nhân dân Đào Trọng Khánh: Bác hay nhắc đến bác Cương (tức nhà thơ Hoàng Trần Cương) trong cuộc rượu, em mua về làm quà cho bác một thứ có liên quan tới bác Cương.  Khi người thương nhân lấy từ trong túi quần ra một hộp đựng thuốc lá, nhìn vào quà tặng, NSND Đào Trọng Khánh quá kinh ngạc. Hóa ra trên hộp đựng thuốc lá hình chữ nhật có in đàng hoàng tên trường ca Trầm trích (Sediment) của Hoàng Trần Cương vừa được nhà xuất bản Đà Nẵng dịch sang tiếng Anh với lời giới thiệu trân trọng của Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến. Trên hộp in đầy đủ tên tác giả: Hoàng Trần Cương (viết đúng tiếng Việt có dấu), tên trường ca bằng tiếng Anh: Sediment, tên thể loại bằng tiếng Anh: Long Poem, tên nơi giới thiệu tác giả này trên hộp đựng thuốc lá:  Sein - Paris (tức là nhà sách Sein bên sông Sein ở Paris). Nhận được quà tặng, NSND Đào Trọng Khánh mừng cho bạn quá, anh vội gọi từ Hải Phòng lên toà soạn Thời báo Tài chính Việt Nam - nơi nhà thơ Hoàng Trần Cương đương nhiệm vị trí Tổng Biên tập. Đúng ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6/2007, hai người bạn gặp nhau và hộp đựng thuốc lá đã được NSND Đào Trọng Khánh chuyển tặng cho nhà thơ Hoàng Trần Cương. Vậy là Châu đã về Hợp Phố vào đúng ngày rất có ấ nghĩa này. (Xem tiếp)

[ THƠ ] 06 July, 2007 22:55

17. Giao cảm phù sa

 

 Quà tặng của những tháng ngày bình yên

Là những loài hoa không nở theo mùa vụ

Thanh thản đất trời

Thanh thản thời gian

Sông ngắm núi êm đềm mây trắng

 (Xem tiếp)

[ THƠ ] 06 July, 2007 22:46

Ghìm đầu vào công việc

Vẫn lo toan gia đình

Như người mặc áo gấm

Đi về lẫn vào đêm

 (Xem tiếp)

[ THƠ ] 06 July, 2007 22:40

14. Cấu trúc làng

  

Thuỷ chung và nhân hậu

Những quê làng

Suốt một thời rặt áo màu nâu

Tre pheo cụt ngọn

 (Xem tiếp)

[ THƠ ] 06 July, 2007 22:38

11. Địa linh

 
Mẹ ơi

Mẹ đã cho con trái tim mang hình chóp núi

Chống nắng chọi mưa

Trần trụi dưới trời

Cái chóp núi vừa ngoi lên đã chui qua cát bụi

Nghèo khó niềm vui

 (Xem tiếp)

[ THƠ ] 06 July, 2007 22:36

8. Hoàng hôn màu cỏ

 
Khói lửa tạm lắng rồi

Gói chiếc ba lô phồng căng thời trai trẻ

Con trở về miền ao ước

Rải tiếng cười lăn xuống gậm giường
 (Xem tiếp)

[ THƠ ] 06 July, 2007 22:34

5. Những viên đá lẻ

 
Những năm tháng đã mịt mờ xa ngái

Chạnh nhớ về là người phát cơn ho

Ngày di dân gió tràn vào xóm nhỏ

Thôn dưới làng trên nhà cửa tuột trần
 (Xem tiếp)

[ THƠ ] 06 July, 2007 22:04

HOÀNG TRẦN CƯƠNG
TRẦM TÍCH
Trường ca
NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN

  (Xem tiếp)

[ PHÊ BÌNH ] 26 June, 2007 02:44

HTCTrầm tích - sự trở lại của trường ca

Nguyễn Trọng Tạo  

Một hồn thơ vạm vỡ, cuộn trào như thế mà cày bút vào trường ca thì quả là không nhầm: Đã thế, anh lại còn cày vào Trầm tích… phải đến anh thì đất và người xứ Nghệ mới thực sự được dựng lên sừng sững như một quần thể tượng đài với những hình tượng nghệ thuật độc đáo hiếm thấy.
 (Xem tiếp)

[ TƯ LIỆU ] 26 June, 2007 00:06



HTC

Trước dinh TT Ba Lan (10.2004)
Trái sang: HTC, Trần Hữu Tòng, Hữu Thỉnh, Nguyễn Thụy Kha, Nguyễn Trọng Tạo
Phạm Ngọc Tiến, Thái Chí Thanh
Photo: Nguyễn Đình Dũng


HTC

Trong vườn nhà nhạc sĩ vĩ đại Chopin (10.2004)
Trái sang: Nguyễn Thụy Kha, Đỗ Quân, Phạm Ngọc Tiến, HTC, Nguyễn Trọng Tạo
Photo: Hoàng Trần Đồng

HTC

Cửa Lò, 30.4.2004
Trái sang: Nguyễn Trọng Ân, Nguyễn Trọng Tạo, Hoàng Trần Cương
Photo: Nguyễn Đình Toán

HTC

Cương cười, Hảo ngủ (Trần Mạnh Hảo)
Photo: Nguyễn Đình Toán

HTC

Cùng đoàn làm phim chân dung Hoàng Cầm 2005
Ảnh chụp với thi sĩ Hoàng Cầm tại tư gia của ông 43 Lý Quốc Sư, HN
Photto: Tư Liệu
[ THƠ ] 25 June, 2007 12:02

Nhà thơ Hoàng Trần Cương làm thơ bằng tiếng Nghệ?

Nguyễn Trọng Tạo

Từ Hộp thư Văn Nghệ:

Tôi và vợ tôi là người nước ngoài nghiên cứu về Việt
Nam. Vợ tôi chuyên về văn học nên hễ đến Việt Nam là thế nào chúng tôi cũng ghé vào một cửa hàng sách để tôi mua vài tập thơ “nịnh vợ”. Lần đến Việt Nam cuối năm Mão, chúng tôi mua được tập trường ca Trầm tích và tập thơ Quà tặng hành tinh của nhà thơ Hoàng Trần Cương. Tuy vậy có nhiều từ chúng tôi không hiểu như “mô, tê, răng, rứa” hay “khú” trong câu “Mưa quây khú cả nắng vàng”,vv…. Chúng tôi hỏi một anh bạn Việt Nam, anh ấy bảo rằng đấy là nhà thơ viết bằng tiếng Nghệ. Vậy nên làm thơ bằng tiếng “Nghệ” hay không? Và nếu có thì nhờ các bạn mách cho chúng tôi mua một cuốn từ điển tiếng Nghệ được không?

Valôđia Becxnôp (Matxcơva)

Trả lời: Hai vợ chồng bạn không chỉ biết tiếng Việt mà còn quan tâm đến thơ của chúng tôi, đó là điều thật đáng quý. Câu hỏi của bạn về “tiếng Nghệ” trong thơ Hoàng Trần Cương là vô cùng thú vị. Nhà thơ Hoàng Trần Cương vốn quê xứ Nghệ, một vùng văn hoá giàu bản sắc riêng, và ngôn ngữ của vùng này có những nét rất độc đáo, còn lưu giữ cho đến nay khá nhiều vốn từ cổ xưa. Nhà thơ Hoàng Trần Cương đã viết tập trường ca Trầm tích từ những cảm quan về xứ Nghệ quê anh, trong đó anh đã huy động toàn bộ vốn sống của anh về xứ Nghệ để miêu tả mảnh đất và con người ở đấy qua nhiều biến thiên của lịch sử. Ngôn ngữ và tư duy của con người xứ Nghệ đã xuyên suốt tập trường ca này, nhờ vậy mà qua 120 trang thơ, người đọc có thể cảm nhận được niềm khát vọng và sức vươn lên của đất và người ở quê nhiều nhọc nhằn, nhiều hy sinh khắc nghiệt trong cuộc chống chọi với thiên tai và địch hoạ liên miên.

Niềm khát vọng và sức vươn lên của xứ Nghệ cũng chính là ước mơ và ý chí của người Việt nói chung trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của mình. Những từ địa phương xứ Nghệ được dùng trong trường ca này có một sức mạnh truyền tải cảm hứng trung thực của nhà thơ, đồng thời có cũng góp phần tạo nên phong cách riêng của nhà thơ. Ví dụ như từ “khú” trong câu thơ “Mưa quây khú cả nắng vàng” mà bạn hỏi, chính là từ riêng của xứ Nghệ đấy. Từ “khú” có hai nghĩa khác nhau là bù khú và mùi khú. Bù khú là nói về nhiều người chụm lại vui vẻ với nhau như “uống rượu bù khú”. Mùi khú là rau cải phơi vàng muối dưa bị bốc mùi hôi khó ăn, hoặc đám cỏ bị nước tiểu xối vào quá nhiều mà bốc mùi xú uế. “Mưa quây khú cả nắng vàng” là với ý nghĩa thứ hai: Mùi khú.

Khi nhận được thư bạn hỏi, tôi đã kiểm tra lại hai cuốn sách của Hoàng Trần Cương và quả là bạn đã nói đúng: Nhà thơ đã dùng khá nhiều từ “tiếng Nghệ” trong thơ của mình. Nhưng nói chung, các từ Nghệ mà  nhà thơ dùng là khá đắc địa, nó tạo được hiệu quả lớn khi người đọc đã từng có một vốn sống văn hoá xứ Nghệ dù là vô thức hay ý thức. Tuy nhiên suốt cả tập trường ca Trầm tích viết về xứ Nghệ, hầu hết những người Việt yêu thơ đều có thể hiểu được, hoặc cảm được. Có lẽ vợ bạn đã thích thơ Hoàng Trần Cương vì  chị đã cảm nhận được cái hay, cái độc đáo, cái ý tưởng vươn lên không chịu khuất phục trước hiện tại địch hoạ hay đói nghèo mà một vùng đất hay cả một dân tộc đã từng vượt qua.

“Cạnh đá sắc còn hằn nguyên vết sẹo

Dấu tích tháng năm buồn

Nghèo khó cằn xé nhau.”

Hoặc: “ Con không tin mảnh đất này rụi rọ

Ai ra đi cũng chẳng muốn quay về

Có một đời con trong đống rác

Xin mẹ cho con bới tìm

Con không tin xứ này đói lịm

Khi chân trời vẫn rợp cánh chim...vv…

Nếu nhà thơ Hoàng Trần Cương đã làm nên bản sắc thơ ca của mình bằng “tiếng Nghệ” thì “làm thơ bằng tiếng Nghệ” nào có lỗi gì đâu. Tất nhiên, làm thơ bằng tiếng Nghệ (hay tiếng gì đi nữa) cho hay luôn luôn là điều không dễ.

Nếu đọc thơ Việt gặp phải những từ tiếng Nghệ mà chưa hiểu được, bạn có thể xem cuốn “Từ điển tiếng Nghệ” do Trần Hữu Thung và Thái Kim  Đỉnh biên soạn ( NXB Nghệ An, 1996). Cuốn từ điển này tuy chưa thật đầy đủ, nhưng nó vẫn mang tới cho bạn nhiều điều bổ ích.

 

(Tiền phong số 3, ra ngày 11-3-2000)

 

[ PHÊ BÌNH ] 25 June, 2007 11:55

Thi pháp đặc sắc của Trầm tích

Nguyễn Trọng Tạo

Tôi đã có trường ca Đồng Lộc (Con đường của những vì sao) và vẫn ấp ủ một trường ca về đất và người xứ Nghệ, nhưng sau khi đọc trường ca Trầm tích, tôi đã từ bỏ ý định của mình vì biết rằng không thể viết về xứ Nghệ hay hơn Hoàng Trần Cương.

Trầm tích là một cuốn trường ca có tầm vóc lớn, nó kết tinh tình cảm và ý chí của người Nghệ cũng như người Việt nói chung trong sự nghiệp chiến tranh vệ quốc vĩ đại, đồng thời chống chọi với thiên tai khắc nghiệt để tồn tại và vươn lên, vượt qua khổ nghèo, tạo dựng một cuộc sống tốt đẹp giàu tình thương, giàu nhân nghĩa. Đây là một trường ca được viết bằng một thủ pháp nghệ thuật khúc chiết trong các cặp đối lập, nhưng đầy va đập trong ngôn từ, hình ảnh, lý trí và cảm xúc, với lối kết cấu đa tầng, đa thanh, đa nghĩa. Đây là lối cấu trúc phức điệu của âm nhạc giao hưởng. Tác giả sử dụng đầy ắp các động từ, nhịp thơ sinh động, biến hoá và tạo được “ép phê” cực mạnh ở các cao trào phụ trong từng chương đoạn nhằm đẩy tới một cộng hưởng ở gần cuối tác phẩm (chương Đá đỏ). Có thể nói rằng, với trường ca này, Hoàng Trần Cương đã tạo ra một thi pháp động rất đặc sắc trong thơ Việt cuối thế kỷ XX. Chính vì thế mà Hoàng Trần Cương là một nhà thơ độc đáo, hay nói như anh Hoàng Cầm “Hoàng Trần Cương là một nhà thơ lớn” cũng chẳng có gì là quá.

Trầm tích được viết ra từ hơn 10 năm trước với những chương đầu tiên đã đoạt giải nhất báo Văn nghệ, rồi khi sách in ra đoạt giải thưởng Bộ Quốc Phòng, và năm 2000 đã đoạt giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam. Khi xét giải thưởng Hội nhà văn, Trầm tích đã được Hội đồng Thơ tranh luận khá sôi nổi, có lúc căng thẳng, nhưng cuối cùng đã đạt số phiếu cao nhất (7/9) trong số tập thơ đoạt giải cùng năm. Đấy là một sự khẳng định sáng suốt. Và thực tế, sau đó Trầm tích có một đời sống  thực trong lòng độc giả. Tôi nhắc lại điều này, để thêm một lần nữa khẳng định sự đóng góp không nhỏ của nhà thơ Hoàng Trần Cương trong thơ Việt Nam hiện đại, và cùng chia vui với anh, người đồng hương, người bạn, người đồng nghiệp tài năng mà tôi luôn nể trọng.

(Trích tọạ đàm về trường ca Trầm tích tại tuần báo Văn Nghệ số 42 - 19/10/2002)

1 2  Sau»